TRANG CHỦ
            

Chùa Thập Tháp (Thập Tháp Di Đà)

Chùa Thập Tháp Di Đà nằm cách TP Quy Nhơn khoảng 28km, được hòa thượng Nguyên Thiều dựng vào năm 1683, trên gò đất có mười ngôi tháp Chàm. Đây là ngôi chùa cổ nhất thuộc phái Lâm Tế, được trùng tu bốn lần vào các năm 1820, 1849, 1877 và 1924. Đến nay chùa vẫn giữ được tổng thể hài hòa, tôn nghiêm, cổ kính. Nằm khuất trong vườn cây cổ thụ sum suê cành lá và quanh năm đắm chìm trong mầu xanh của ao đầm, của cây cỏ, chùa Thập Tháp từ lâu đã trở thành danh lam thắng cảnh nổi tiếng của Bình Định, thu hút nhiều khách thập phương về hành hương, cúng tế, lễ bái hoặc tham quan, khảo cứu vì đây là ngôi cổ tự xưa nhất ở miền trung.

Chùa nằm phía bắc thành cổ Đồ Bàn, kinh đô của nước Chiêm Thành ngày xưa, gần Quốc lộ I và cách thành phố Quy Nhơn độ 28km. Thời xa xưa, trên gò đất cao ấy có đến mười ngôi tháp Chàm cổ kính nằm án ngữ mặt bắc Đồ Bàn cho nên người ta mới gọi là gò Thập Tháp. Kể từ khi vào trấn đất Thuận Hóa và mở mang bờ cõi xa dần về phía nam, ngoài việc chăm lo về chính trị, kinh tế, quân sự và văn hóa trong hơn hai trăm năm, các chúa Nguyễn đều coi trọng đạo Phật cho xây dựng nhiều chùa chiền, đúc nhiều chuông, nhiều tượng Phật. 

Bấy giờ có Tế Viên Hòa thượng, Giác Phong lão tổ đều là người Trung Hoa tham gia truyền bá đạo Phật ở Việt Nam. Năm Ất Tỵ (1665) đời chúa Nguyễn Phước Tần, có vị thiền sư người Trung Hoa đến Việt Nam, ở lại đất Quy Ninh (Bình Định ngày nay) để tìm đất cất chùa. Ông cho phá hủy mười ngôi tháp Chàm đã bị sụp đổ để lấy gạch xây dựng chùa thờ Phật gọi là chùa Thập Tháp.

Chùa được xây dựng vào năm Quý Hợi (1683) niên hiệu Chánh Hòa nhà Lê và vị thiền sư có công xây dựng chùa chính là hòa thượng họ Tạ, húy là Nguyên Thiều, quê quán ở Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Ông tu về Thiền Tông thuộc phái Lâm Tế. Năm Tân Mùi (1691) nhà Lê, chùa được vua Lê Hiển Tông ban cho biển ngạch đề "Thập Tháp Di Đà tự". Sau khi xây dựng chùa Thập Tháp Di Đà, hòa thượng Nguyên Thiều mở trường truyền đạo. Được ít lâu, ông giao cho đệ tử trông coi rồi ra Thuận Hóa lập chùa Phổ Thành ở Hà Trung, vào Gia Định lập chùa Giác Duyên, sau đó trở ra Thuận Hóa lập thêm chùa Quốc Ân.

Dưới đời chúa Nguyễn Phước Trăn (1687-1691) ngài phụng mệnh nhà chúa trở về Trung Hoa tìm mời thêm các danh tăng và cung thỉnh pháp tượng, pháp khí đem về miền trung Việt Nam. Chùa Thập Tháp Di Đà xây bằng gạch Chàm, lợp ngói âm dương, bốn vày, ba gian, hai chái, kiến trúc theo hình chữ khẩu, có hai lớp tường bao bọc chung quanh. Những khu vực chính của chùa gồm có khu chính điện, khu phương trượng, khu tây đường và đông đường, có dãy hành lang rộng lớn nối liền, bao bọc một sân rộng, có lát gạch vuông, bày đủ các thứ cây cảnh. ở khu chính diện, kết cấu chủ yếu là gỗ quý được chạm trổ rất tinh xảo, công phu với những họa tiết hoa cuộn, hoa sen, rồng, phượng cách điệu. Đầu tám hàng trụ cột và đầu kèo được chạm, trang trí cổ tự. Ngoài những công trình chính, bên cạnh chùa còn có 24 bảo tháp lớn nhỏ mang hình thái kiến trúc nhiều thời khác nhau. Trước chùa còn có ao sen rộng, xây bằng đá ong xưa.

Trong chùa có ba tạng kinh, giấy khổ rộng, chữ to bằng ngón tay út. Bộ kinh hết sức cổ, có lẽ do sư tổ Nguyên Thiều đã thỉnh từ Trung Hoa sang vào lúc phụng mệnh chúa Nguyễn về nước vào cuối thế kỷ 17. Ngoài ra, chùa còn có hai tượng Hộ Pháp và 36 tượng La Hán bằng gỗ chạm khắc tinh vi. 36 tượng La Hán, mỗi vị cao nửa mét, thờ hai bên án cạnh bàn thờ Phật, mỗi bên 18 vị, mỗi vị có khuôn mặt và dáng điệu khác nhau. Còn hai tượng Hộ Pháp đặt ở hai bên cửa bước vào cao đến hai mét. Tại chùa còn có quả chuông đường kính 70cm, nặng 500kg, đúc từ năm 1893.

Trong tất cả chùa chiền ở miền trung được xây cất từ thời các chúa Nguyễn, thì chùa Thập Tháp Di Đà ở Bình Định là chùa cổ nhất thuộc phái Lâm Tế và được xem như là chùa tổ. Nhưng về sau, ngài Nguyên Thiều ra trụ trì ở Thuận Hóa và tịch ở đó cho nên đệ tử mới lấy chùa Quốc Ân làm chùa tổ thay cho chùa Thập Tháp Di Đà. Còn ngài Nguyên Thiều sau khi tịch (1729) được chúa Nguyễn Phước Chu ban thụy hiệu là "Hạnh Đoan Thiền Sư" và có bài minh khắc vào bia đá ca ngợi đạo đức của hòa thượng.

Qua nhiều lần trùng tu, tái tạo, cái cũ và cái mới đan xen, nhưng chùa vẫn giữ được tổng thể hài hòa, tôn nghiêm cổ kính. Chùa được trùng tu cả thảy bốn lần. Lần trùng tu đầu tiên vào năm Minh Mạng thứ nhất (1820), lần thứ hai vào năm Kỷ Tỵ (1849) dưới thời chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, lần thứ ba vào năm Bính Tuất (1877) dưới thời vua Tự Đức và lần thứ tư vào năm Giáp Tý (1924) dưới triều vua Khải Định. Năm 1924, hòa thượng Phước Huệ là tổ thứ 40 phái Lâm Tế và là tổ thứ 13 của phái Nguyên Thiều đứng ra xây dựng, mở rộng chùa và dựng thêm cổng Tam quan như ngày nay.(Theo ST)

Chùa Sơn Long (chùa Hang)

Chùa Sơn Long, dân địa phương quen gọi là chùa Hang, đã được thành lập hơn 300 năm và là một ngôi chùa cổ thứ nhì của tỉnh Bình Định, chỉ đứng sau chùa Thập Tháp (An Nhơn). Chùa Sơn Long nguyên là Giang Long Thiền Thất, tọa lạc trên sườn núi Trường Úc. Sau đó, chùa được tái thiết trên một khu đất hình thang sát chân núi (Trường Úc), cách cầu Trường Úc khoảng 700m về hướng Đông, nay thuộc phường Nhơn Bình, TP QuyNhơn. Bạn sẽ gặp một ngôi chùa cổ nép mình bên núi Trường Úc, cổng tam quan khiêm nhường hòa mình cùng hàng rào cây lá xanh mướt xưa kia nay đã lùi vào trong, nhường chỗ cho đôi cổng mới được thiết kế quy mô và hiện đại hơn nhưng ngôi chùa vẫn giữ được những nét rêu phong, cổ kính ban sơ của nó.< Kiến trúc chùa đã có nhiều thay đổi nhưng khuôn viên chùa vẫn giữ như cũ. Mặt tiền hình cánh cung niễng, mặt hậu đất đá lồi lõm sát vách núi. Chính vẻ mộc mạc, hoang sơ của khuôn viên chùa đã phần nào tạo nên vẻ u huyền cổ kính cho chùa. Tương truyền, dưới chân núi phía sau chùa, xưa kia có một tảng đá rất lớn trông như miệng rồng có hàm trên, hàm dưới với một cái lưỡi nhỏ đưa ra ở chính giữa. Vào những tiết hạn hán, các cụ tiên chỉ trong vùng thường đến đây ăn chay, đạp đất để cầu mưa thuận, gió hòa. Tảng đá đó có tên gọi đá Hàm Long, nay không còn nữa vì nạn chẻ đá. Trong chùa có 15 ngôi mộ tháp lớn nhỏ, có những ngôi mộ vẫn còn giữ nét rêu phong, cũ kỹ của mấy trăm năm về trước, có mộ tháp đã được trùng tu khang trang hơn. Theo Đại Thích Đồng Đức, đang trụ trì chùa, năm 1992, chùa đã cho xây dựng thêm tượng Bồ tát Quan âm ở hướng Tây. Năm 1996, xây tượng Thích ca Mầu Ni tọa thiền phía tây bắc... mang lại sắc khí mới cho chùa.

Đến Sơn Long, bạn còn được chiêm ngưỡng bức tượng Phật Lồi 7 đầu rồng bằng đá nặng 1,5 tấn, cao 3,1 m với chạm khắc hoa văn sau lưng. Bức tượng được xác định của người Chămpa tạc từ thế kỷ thứ VIII... Dù dáng vẻ còn khiêm tốn nhưng Sơn Long vẫn dập dìu khách phương xa đến thăm thú, lễ bái, vãn cảnh... đặc biệt là trong những dịp đầu năm mới.

Chùa Long Khánh:

Nằm ở vị trí trung tâm thành phố, chùa Long Khánh là một trong những trung tâm phật giáo lớn của Bình Định, là nơi sinh hoạt lễ bái của giới tăng ni phật tử và là điểm tham quan du lịch hấp dẫn cho du khách gần xa khi có dịp đến với Thành phố biển Quy Nhơn.

Chùa được kiến trúc theo hình chữ “Khẩu” phía trước có chánh điện gồm Thượng điện và Hậu điện. Phần Thượng điện thờ Phật Adiđà và Quan âm Chuẩn đề, Hậu điện thờ Phật tổ Thích Ca. Hai bên có Đông phòng và Tây phòng. Hai dãy này là chỗ dành riêng cho tăng ni. Phía sau là Tổ đình, thờ các vị khai sơn phá thạch.

Kiến trúc nguyên thủy của chùa không còn nữa. Ngôi chùa hiện nay về cơ bản được xây dựng lại vào năm 1956 và hoàn thiện vào năm 1972. Phong cách kiến trúc này mang dáng dấp kiểu chùa của cư dân miền Nam Trung Hoa. Về giá trị kiến trúc, chùa Long Khánh không có gì độc đáo, nhưng với lịch sử hình thành và phát triển của Quy nhơn, chùa Long Khánh có một vị trí khá đặc biệt.

Minh văn khắc trên chuông và ghi chép trong cuốn Lịch sử chùa Long Khánh hiện được lưu giữ tại chùa cho biết chùa Long Khánh thuộc thôn Vĩnh Khánh, phủ Quy Nhơn, do thiền sư Tích Thọ đời thứ 38 của thiền phái Lâm Tế tên là Nguyễn Trinh Tường khởi dựng. Quả chuông được đúc vào năm Gia Long thứ 4, tức năm 1805. Điều này tương đối phù hợp với ghi chép trong Đại Nam Nhất Thống chí. Nhưng theo các nguồn tài liệu Phật giáo khác thì người có công khởi dựng chùa Long Khánh là thiền sư Đức Sơn. Thần vị của hòa thượng này hiện được thờ tại Tổ đình. Ông là Tổ thứ 35 của dòng Lâm Tế Chánh tông, sinh năm Kỷ Mùi, viên tịch ngày 2 tháng Chạp năm Tân Dậu.

Cũng theo các tài liệu Phật giáo, thiền sư Đức Sơn đến lập ra ngôi Tổ đình Long khánh của dòng Lâm Tế, vùng đất này còn mang địa danh Quy Ninh. Đối chiếu với lịch sử, địa danh này tồn tại trong khoảng thời gian từ năm 1651 đến năm 1742. Trong chùa, ngoài quả chuông, còn có một hiện vật cổ được các sư tăng cho là bảo vật của chùa.

Như trên đã nói, Hòa thượng Đức Sơn đến Quy Ninh trong thời gian từ 1651 đến 1742. Trong khoảng thời gian này chỉ có một năm Ất Mùi là năm 1715. Như vậy, chùa Long Khánh được xây dựng muộn nhất là năm 1715, thời điểm Hòa thượng Đức Sơn cho đúc chiếc khánh, chứ không phải năm 1807 như Đại Nam Nhất Thống chí và các tài liệu gần đây xác định. Hòa thượng Nguyễn Trinh Tường không phải là người kiến lập chùa mà chỉ là người có công tôn tạo chùa và đúc quả chuông vào năm 1805. Về hệ phái Hòa thượng Nguyễn Trinh Tường thuộc đời 38 của dòng Lâm Tế và nếu Hòa thượng Đức Sơn là Tổ thứ nhất thì ông là đời thứ 4 của Tổ đình Long Khánh.

Từ đây, có thể kết luận rằng, chùa Long Khánh được xây dựng trên đất làng Vĩnh Khánh, phủ Quy Ninh vào khoảng năm 1715. Giữa thế kỷ XVIII phủ Quy Ninh đổi thành Quy Nhơn, đến cuối thế kỷ 19 làng Vĩnh Khánh đổi thành làng Cẩm Thượng, thuộc huyện Tuy Phước, phủ Quy Nhơn đổi thành tỉnh Bình Định. Các tác giả Đại Nam Nhất Thống chí đã ghép chùa Long Khánh vào địa danh cuối cùng này.

Mặc dù đã qua bao lần trùng tu, tái tạo, chùa Long Khánh vẫn là một di tích lịch sử - văn hóa có giá trị. Đó là một trong hai ngôi chùa có niên đại cổ kính nhất ở Bình Định. Ngày nay, du khách gần xa khi đến chùa không thể không có những phút giây cảm giác tĩnh mịch, sâu lắng và tôn kính như đi vào cửa thế giới hư vô cực lạc.

Chùa Linh Phong:

Chùa Linh Phong, còn gọi là chùa Ông Núi, được xây dựng từ đời nhà Lê, cách nay khoảng ngót 700 năm. Chùa tọa lạc ở lưng chừng núi phía nam trong dãy núi Bà thuộc thôn Phương Phi, xã Cát Tiến, huyện Phù Cát.Tương truyền, năm Nhâm Ngọ đời Hiếu Minh hoàng đế thứ 11, một ông sư người Trung Hoa, có pháp hiệu Thiện Trí Thiền Sư đến đây dựng am nhỏ gọi là Dũng Tuyền Tự (chùa suối). Ông ở ẩn trong núi, ngày đêm tụng kinh niệm Phật nên dân làng gọi sư là Ông Núi. Thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), chúa xuống chiếu cho làm lại chùa, đặt tên là Linh Phong Thiền Tự, ban pháp danh cho nhà sư khai sáng chùa là Tịnh Giáo Thiện Từ Đại lão Thiền sư. Nhà sư viên tịch vào thời Tây Sơn.

Phong cảnh chùa Linh Phong thật kỳ vĩ. Thủa xưa, chùa nằm dưới rừng cây cổ thụ, tịch mịch thâm u. Cây sống lâu đời, có hình thù cổ quái và cao vút. Quanh chùa, đá mọc ngổn ngang. Hòn đứng sừng sững giữa trời. Hòn chen chúc cùng cây cối. Có những hòn tạo hình thành con cóc khổng lồ hoặc đôi trống mái đang âu yếm nhau. Lại có những hòn đá lớn nhẵn nhụi nằm rải rác như một đàn voi khổng lồ. Chùa cất ở lưng chừng nên sau chùa có núi cao ngất. Nguồn nước trong mát từ các mạch trên đỉnh núi chảy xuống, dẫn đến chùa bằng hai nhánh. Từ cổng chùa nhìn xuống chân núi, thấy làng mạc xanh tươi, nhà cửa quần tụ. Xa hơn nữa, một phần đầm Thị Nại hiện lấp lánh dưới ánh mặt trời.

Ở sườn núi phía đông có một hang đá rộng ăn sâu vào lòng núi. Đó là nơi Ông Núi thường tu luyện. Đồn rằng trong hang có bàn đá, ghế đá và nhiều vật dụng đều bằng đá. Lại có 2 con cọp mun hiền lành của Thiền Sư để lại. Thỉnh thoảng cọp ra khỏi hang đi tìm trái cây ăn chứ không bắt heo bò của dân. Hang bỏ lâu đời, đường vào hang gai mọc lấp đầy nên bây giờ chẳng ai dám vào và cũng không thể vào được.

Chùa Linh Phong đã mấy lần đón Đào Tấn từ quan về tu ở đấy. Trong "Bài ký chùa Linh Phong", Đào Tấn viết: "Những năm vua Kiến Phước, Hàm Nghi, Tấn tôi bỏ quan về núi này, chùa này, một năm ở chùa quá nửa…". Ông có ghi câu đối ở đây:

Khói hoa một mớ trời dành sẵn

Ao biển mười năm mộng trở về.

Sau khi chùa được đặt tên Linh Phong Thiền Tự, chùa còn được vua ban câu đối:

Bờ biển gặp duyên may, mưa pháp cùng trời thấm nhuần đất Phật;

Núi Linh đọng khí tốt, mây lành khắp chốn che chở người đời.

Năm thứ 3 Hiếu Võ Hoàng đế Nhà Tây Sơn, Ông Núi viên tịch, được sư sãi an táng trong ngôi tháp bên cạnh chùa. Tháp cũng có câu đối ca ngợi cảnh chùa và công đức nhà sư.

Chùa Linh Phong đã được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa. Nhà nước cũng cho phép xây dựng lại chùa theo nguyện vọng của nhân dân. Ngày nay, chùa Linh Phong sừng sững mái son nổi bật trên nền cỏ cây xanh biếc với tượng Phật Bà ngự giữa tòa sen trước sân chùa. Hai tòa tháp an táng các nhà sư cũng được tu bổ lại. Ngày rằm, mồng một, sư sãi và đệ tử khắp nơi về chùa dâng hương lễ Phật. Tết và những ngày lễ lớn, ngày nghỉ, nhân dân nô nức chen chân về chùa Linh Phong vãn cảnh, tham quan. Chùa Linh Phong ngày nay trở thành một địa chỉ du lịch khá hấp dẫn của Bình Định.

Nhà thờ Chánh tòa Quy Nhơn - Kiến trúc tôn giáo đặc sắc vùng đất Bình Định


Nhà thờ Chánh tòa Quy Nhơn (còn có danh hiệu Đức Mẹ Lên Trời và còn có tên khác là nhà thờ Nhọn) tọa lạc tại 122 đường Trần Hưng Ðạo, Thành Phố Quy Nhơn. Nhà thờ có khuôn viên khá rộng và được trồng nhiều cây xanh, do vị trí nằm đối diện với trục đường Lê Thánh Tôn nên chúng ta có thể ngắm được nhà thờ từ đầu đường Nguyễn Huệ.
Toàn cảnh mặt trước nhà thờ Chánh tòa lúc lên đèn.
 
Cung thánh với trần vòm cao tạo vẻ đẹp thanh thoát.
Nhà thờ Chánh tòa Quy Nhơn là nơi diễn ra những buổi lễ quan trọng như "Lễ phong chức" cho các linh mục.
Toàn cảnh mặt trước nhà thờ vào ban ngày.


     Video
Hai au
b
d
c
     THỐNG KÊ NGƯỜI DÙNG
  Đang online:               2
  Số lượt truy cập: 68969
TRUNG TÂM QUỐC TÊ KHOA HỌC VÀ GIÁO DỤC LIÊN NGÀNH