TRANG CHỦ
            

GS. David Gross - Nobel Vật lý 2004

Giáo sư David Jonathan Gross là một nhà Vật lý người Mỹ nghiên cứu về lĩnh vực hạt cơ bản và lý thuyết dây. Phát hiện "tiệm cận tự do" đã mang đến cho ông, cùng với Frank Wilczek và David Politzer (nghiên cứu độc lập),giải thưởng Noel Vật lý vào năm 2004.

 

Ông tốt nghiệp tiến sĩ về Vật lý tại Đại học Berkeley (Hoa kỳ) năm1966. Hiện là thành viên thường trực và chủ tịch Ban Giáo sư Vật lý Lý thuyết của Viện Vật lý Lý thuyết KAVLI, là giáo sư Vật lý của trường Đại học California, Santa Barbara, Hoa Kỳ, là thành viên danh dự của Viện Hàn Lâm Khoa học Quốc gia Mỹ.

 

Giải thưởng và danh hiệu chính khác:

- Giải thưởng của Hội Vật Lý Châu Âu về Năng Lượng cao và Vật lý Hạt (2003).

-  Giải Harvey của Viện Công nghệ Kỹ thuật Do Thái Technion (2000)

-  Huy chương OsKar Klein của Trường Đại học Stockholm và Viện Hàn lâm Hoàng gia Thụy Điển (2000)

-  Huy chương Dirac của Trung tâm Quốc tế về Vật lý Lý thuyết Abdus Salam (1988)

-  Giải MacArthur còn được gọi là "Giải Thiên tài" của Hội MacArthur (1987)

-  Thành viên danh dự của Hội Phát triển Nghiên cứu Hoa Kỳ (1987)

-  Giải J.J. Sakurai của Hội Vật Lý Hoa Kỳ (1986)

-  Thanh viên của Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ (1986)

-  Thành viên danh dự (Fellow) của Hội Hàn lâm Nghệ thuật và Khoa học Hoa Kỳ (1985)

-  Thành viên danh dự (Fellow) của Hội Vật lý Hoa kỳ (1974).

 

GS. Carlo Rubbia - Nobel Vật lý 1984

Giáo sư Carlo Rubbia ( sinh năm 1934), là một nhà vật lý nguời Ý. Ông cùng chia sẻ giải Nobel Vật lýnăm 1984 với Simon van der Meercho những đóng góp của họ trong việc tìm ra hạt W và Z. Tên của ông đã được dùng để đặt tên cho một tiểu hành tinh: tiểu hành tinh 8398 Rubbia.

 

Ông tốt nghiệp tiến sĩ tại Đại học Pisa (Ý) năm 1958.

 

Hiện nay ông nghiên cứu tại CERN, nơi ông làm việc từ năm 1960.

 

Năm 2013 được bổ nhiệm bởi Tổng thống Giorgio Napolitanolàm thượng nghị sĩ Ý với nhiệm kỳ vô thời hạn.

 

Các giải thưởng và danh hiệu chính khác: 

- Danh hiệu Cavaliere di Gran Croce OMRI của Ý (1984).

Bakerian Lecture của Hội Hoàng gia Luân Đôn Royal Society (1985).

ForMemRS-thành viên nước ngoài của Hội Hoàng gia Luân Đôn (1984).

- Huân chương Dirac củaTrung tâm Quốc tế Vật lý Lý thuyết Abdus Salam (1989).

 

GS. Jerome Friedman - Nobel Vật lý 1990

Jerome Isaac Friedman là một nhà Vật lý người Mỹ. Năm 1990, ông đồng giải Nobel về vật lý với Henry W. Kendall và Richard E. Taylor cho việc chứng minh cấu trúc bên trong của hạt proton. Công trình của ông và các cộng sự là nền tảng cho việc phát triển mô hình quark trong vật lý hạt.

 

Ông tốt nghiệp tiến sĩ vật lý tại Đại học Chicago, Hoa Kỳ năm 1956. Hiện là giáo sư tại MIT (Massachusetts Institute of Technology, Hoa Kỳ), chức vụ ông đảm nhận từ năm 1960.

Từ năm 1963, ônghợp tác nghiên cứu với một số nhà khoa học của Trung tâm Gia tốc Tuyến tính ở Standford (the Stanford Linear Accelerator Center) và Viện Kỹ thuật California (California Institute of Technology) và với Fermilab, Hoa Kỳ.

Năm 2008, Friedman nhận được bằng tiến sĩ danh dự của Đại học Belgrade.

 

GS. Kurt Wuthrich - Nobel Hoá học 2002

Giáo sư Kurt Wuthrich là nhà hóa học, nhà vật lý, nhà toán học người Thụy Sỹ. Ông đoạt Giải Nobel Hóa học năm 2002 cùng với Tanaka Kōichi và John B. Fenn cho công trình nghiên cứu về việc dùng phổ cộng hưởng từ để xác định cấu trúc ba chiều của các đại phân tử sinh học trong dung dịch.

 

Ông tốt nghiệp tiến sĩ tại Trường Đại học Basel (Thụy Sĩ) 1964. 

Hiện ông đảm nhiệm các chương trình và dự án nghiên cứu tại phòng thí nghệm ở ETH Zurich và Viên Nghiên cứu Scripps tại La Jolla, California, là thành viên của ban Cố vấn Lễ hội Khoa Học và Công Nghệ Hoa Kỳ và là thành viên nước ngoài của Hội Hoàng gia Thụy Điển (ForMemRS) từ năm 2010.

Các giải thưởng chính khác:

- Huy chương Otto Warburg Medal (1999)

- Giải thưởng Kyoto (1998)

- Giải Louisa Gross Horwitz của Đại học Columbia (1991)

-  Giải Marcel Benoist của Hội Marcel Benoist (1991).

 

GS. Jean Jouzel - Nobel Hoà bình 2007

Ông tốt nghiệp tiến sĩ tại Trung tâm Nghiên cứu về Nguyên tử Pháp vào năm 1974. Ông gia nhập nhóm chuyên gia quốc tế về biến đổi khí hậu GIEC từ năm 1994,và hiện là phó chủ tịch Hội đồng Quản trị của nhóm này. Năm 2007 ông nhận giải Nobel Hoà bình cùng với nhóm GIEC.

 

Là chuyên gia về khí hậu và giám đốc nghiên cứu tại CEA Pháp. Nghiên cứu của ông bao gồm việc mô phỏng các vùng khí hậu đã từng hiện hữu trên địa cầu dựa trên cơ sở các kết quả nghiên cứu và khảo sát các vùng đá băng Nam Cực và Greenland.

- Các giải thưởng khác:

- Huân chương Milankovitch và Revelle trao bởi Hội Vật lý địa cầu Châu Âu và Mỹ

- Huân chương vàng trao bởi Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp (nhận cùng với Claude Lorius năm 2002)

- Nobel Hòa bình (2007, cùng với nhóm GIEC)

- Giải của Hội Albert II de Monaco (2012)

- Giải Vetlesen (2012), được coi như là giải "Nobel Khoa học Trái đất và Vũ trụ".

 

GS. Finn Kydland - Nobel Kinh tế 2004

Giáo sư Finn Erling Kydlandlà nhà kinh tế học người Na Uy. Kydland được traogiải Nobel Kinh tế năm 2004 (cùng vớiEdward C. Prescott), "cho những đóng góp của họ về kinh tế vĩ mô động: thời gian nhất quán của các chính sách kinh tế và động lực thúc đẩy chu trình kinh doanh".

 

Ông hiện là Giáo sư kinh tế Henley tại Đại học California, Santa Barbara.

 

Ông cũng giữ chức danh giáo sư ưu tú mang tên Richard P. Simmons tại Trường kinh tế Tepper thuộc Đại học Carnegie Mellon nơi ông nhận bằng tiến sĩ và một vị trí bán thời gian tại Trường kinh tế Na Uy (NHH).

 

Các giải thưởng và danh hiệu khác :

- Giải của Ngân hàng Thụy Điển trong khoa học kinh tế để tưởng nhớ Alfred Nobel (2004).

- Fellow, kinh tế lượng Society (1992)

- John Quốc Fellowship Stauffer, Hoover Institution (1982-1983)

Henderson giải thưởng Alexander , Carnegie Mellon (1973)

- Thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học và Na Uy Letters.

Các giải thưởng và danh hiệu khác :
Các giải thưởng và danh hiệu khác :


     Video
Hai au
b
d
c
     THỐNG KÊ NGƯỜI DÙNG
  Đang online:               29
  Số lượt truy cập: 70957
TRUNG TÂM QUỐC TÊ KHOA HỌC VÀ GIÁO DỤC LIÊN NGÀNH